Chọn tạo giống đậu nành cao sản kháng bệnh – triển vọng toàn cầu

 Chọn tạo giống đậu nành cao sản kháng bệnh – triển vọng toàn cầu

Nguồn: Feng LinSushil Satish ChhapekarCaio Canella VieiraMarcos Paulo Da SilvaAlejandro RojasDongho LeeNianxi LiuEsteban Mariano PardoYi-Chen LeeZhimin DongJose Baldin PinheiroLeonardo Daniel PloperJohn RupePengyin ChenDechun Wang & Henry T. Nguyen. 2022. Breeding for disease resistance in soybean: a global perspective. Theoretical and Applied Genetics November 2022; vol. 135: 3773–3872

 

Bài tổng quan này cung cấp cho chúng ta một atlas về những QTLs, gen và alen có liên quan đến tính kháng của  28 bệnh quan trọng trên tất cả vùng trồng đậu nành chính của thế giới.

 

Cải tiến giống đậu nành cao sản [Glycine max (L.) Merr.]  kháng bệnh hại chính là mục tiêu chung của các chương trình lai tạo giống đậu nành nhằm đảm bảo sự bền vững và sự tăng trưởng của sản lượng đậu nành trên toàn thế giới. Tuy nhiên, do biến đổi khí hậu cực đoan, các nhà chọn giống đậu nành đang đối mặt với những thách thức to lớn là chiến thắng bệnh hại. Chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (MAS) và sàng lọc di tuyền (genomic selection) đã và đang chứng minh được sự thành công của phương pháp ấy trong tích hợp nhanh cho1ngti1nh kháng ngang và tính kháng dọc vào những giống đậu nành cao sản, trong khi, tính kháng dọc liên quan đến các gen R và ảnh hưởng chính của QTLs, thì tính kháng ngang và một phối hợp của các gen hoặc QTLs có tính chất chủ lực và thứ yếu. Bài tổng quan này tóm lược lại có hơn 800 loci/alleles kháng bệnh và những markers của chúng liên kết rất chặt chẽ với gen đích; đối với 28 bệnh đậu nành liệt kê trên toàn thế giới, bệnh được gây ra bởi nematodes, oomycetes, nấm, vi khuẩn, và viruses. Những điểm đột phá chính trong nghiên cứu atlas của gen kháng bệnh trên cây đậu nành còn được nhấn mạnh với các điểm như sau: (1) phân lập và định tính các gen kháng dọc rhg1 và Rhg4 đối với cyst nematode, và khai thác những cơ chế điều tiết gen biểu hiện thông qua biến thiển số bản sao chép; (2) phương pháp “map-based cloning” và định tính gen Rps11 liên quan đến tính kháng 80% mẫu phân lập của nấm Phytophthora sojae trên toàn vùng trồng đậu nành Hoa Kỳ. Trong tổng quan này, người ta tóm lược những QTLs được minh chứng rõ ràng trong vùng chồng lấp nhau của hệ gen cây đậu nành, có ít nhất hai nghiên cứu về nội dung này và kết quả được áp dụng để định danh những QTLs. Tổng quan cung cấp một tóm tắt rất đầy đủ về gen/QTL điều khiển tính kháng bệnh hại quan trọng trên đậu nành; nó có thể được sử dụng như một toolbox phục vụ cải tiến giống đậu nành. Sau cùng, kiến thức di truyền được tóm lược ở đây đã làm sáng tỏ những định hướng trong tương lai chương trình cải tiến giống đậu nành và những nghiên cứu về dịch mã hệ gen đậu nành.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-022-04101-3

Comments

Popular posts from this blog

Kiểm soát di truyền của khả năng chịu hạn trên đậu nành dại (glycine soja) ở các giai đoạn sinh dưỡng và nảy mầm

GWAS phân tích đa dạng hàm lượng khoáng chất trong hạt đậu cô ve

GWAS tính trạng kháng bệnh thối thân trên tập đoàn giống đậu nành Canada