Di truyền tính kháng bệnh khảm siêu vi trên cây đậu nành (Glycine max L.)

 Di truyền tính kháng bệnh khảm siêu vi trên cây đậu nành (Glycine max L.)

Nguồn: Tongtong JinAdhimoolam KarthikeyanLiqun WangTingxuan ZongTao WangJinlong YinTing HuYunhua YangHui LiuYongchun CuiTuanjie Zhao & Haijian Zhi. 2022. Digs out and characterization of the resistance gene accountable to soybean mosaic virus in soybean (Glycine max (L.) Merrill). Theoretical and Applied Genetics December 2022; vol. 135: 4217–4232

 

Một gen ứng cử viên giả định quy định tính kháng bệnh SMV chủng nòi SC1 (strain) được người ta phân lập thành công trên nhiễm sắc thể 2, chỉ thị phân tử liên kết chặt với gen đích cũng được minh chứng trong các giống đậu nành.

 

Bệnh khảm đậu nành do siêu vi gây triệu chúng khảm là bệnh rất phổ biến trong canh tác đậu nành, làm giảm sản lượng đậu nành tại Huanghuai và vùng ven sông Dương Tử của Trung Quốc. Giống đậu nành Kefeng No.1, biểu hiện tính kháng bệnh đối với chủng nòi (strain) gây khảm siêu vi số 1 (SC1) được thu thập tại Huanghuai khu vực trồng đậu ở sông Dương Tử. Kết quả phân tích di truyền Mendel từ quần thể con lai của cặp lai Kefeng No.1 × Nannong 1138-2 cho thấy rằng Kefeng No.1 có một gen đơn trội điều khiển tính kháng bệnh. Người ta thực hiện “fine-mapping” thông qua quần thể con lai F2 có tất cả 281 cá thể, gen đích nằm tại vùng có kích thức phân tử 186 kb kề cận với hai thỉ thị phân tử SSR là BS020610 và BS020620 trên nhiễm sắc thể số 2. Trong vùng gen đích này, có tất cả 14 gen khi tham chiếu với  “Williams 82 reference genome”. Kết quả phân tích trình tự cho thấy có sáu gen trong 14 gen ấn biểu hiện trình tự amino acid khác biệt nhau. Một trong số ấy có alen Rsv4 được ký hiệu là gen Rsc1-DR. Kết quả phân tích chức năng gen ứng cử viên so với gen kháng siêu vi BPMV (bean pod mottle virus) được kích hoạt bằng hệ thống làm “câm gen: (VIGS): cho thấy Rsc1-DR có từ giống kháng Kefeng No.1 kháng được SMV-SC1. Kết quả chạy toàn bộ trình tự hệ gen Rsc1-DR, và chỉ thị phân tử Insertion/Deletion (InDel), JT0212, cộng với kết quả đánh giá kiểu gen của 100 giống đậu nành, giá trị “coincidence rate” đạt 89%. Kết quả nghiên cứu này đã làm giàu kiến thức của chúng ta về cơ chế tính kháng bệnh SMV. Marker phát triển từ công trình nghiên cứu này có thể được các nhà chọn giống đậu nành sử dụng để chọn ra các dòng cao sản ưu việt kháng bệnh siêu vi với alen thuận lợi cho các tổ hợp lai, kết quả se tăng cường hiệu quả chọn giống nhờ chỉ thị phân tử đối với tính kgha1ng bệnh SMV.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-022-04213-w

Comments

Popular posts from this blog

Kiểm soát di truyền của khả năng chịu hạn trên đậu nành dại (glycine soja) ở các giai đoạn sinh dưỡng và nảy mầm

GWAS phân tích đa dạng hàm lượng khoáng chất trong hạt đậu cô ve

GWAS tính trạng kháng bệnh thối thân trên tập đoàn giống đậu nành Canada