Di truyền tính chống chịu hạn của cây đậu nành
Di truyền tính chống chịu hạn của cây đậu nành
Nguồn: Pedro Castro-Valdecantos, Jaime Puértolas, Ian C Dodd. 2024. Similar soil drying-induced stomatal closure in soybean genotypes varying in abscisic acid accumulation and stomatal sensitivity to abscisic acid. Funct Plant Biol.; 2024 Jan; 51(1):NULL. doi: 10.1071/FP23012.
Các giống đậu nành khác nhau (Williams 82, Union, Jindou 21, Long Huang 1, Long Huang 2 ) được xử lý trong nghiệm thức đất khô hạn, nhằm tìm hiểu hàm lượng abscisic acid (ABA) nội sinh và mối tương quan hàm lượng nước trong lá điều điết như thế nào để đóng mở khí khổng. Hàm lượng ABA được đo trong bó mạch xylem và các mô của lá thứ nhất và lá thứ hai theo thứ tự; độ dẫn khí khổng gs (stomatal conductance) và khả năng giữ nước trong lá (Ψleaf ) của cả 2 loại lá nói trên; hàm lượng nước trong đất dều được ghi nhận. Biến thiên trong giống đậu nành về tính trạng diện tích lá và gs là nguyên nhân gây ra tỷ lệ khác nhau của độ khô đất (soil drying), nhưng gs và Ψ leaf suy giảm theo mức độ khô hạn của đất trong tất cả giống thí nghiệm. Biến thiên trong mạch xylem của lá về hàm lượng ABA cho thấy phản ứng ABA của khí khổng tốt hơn hàm lượng ABA lá trong một vài giống đậu nành, kết quả có hệ số tương quan chặt với độ dẫn khí khổng. Hàm lượng ABA ở mạch xylem trong nghiệm thức có tưới nước đạt cao nhất trong giống đậu nành Union, trong nghiệm thức đất khô hạn thấp nhất trong giống Jindou 21 và Long Huang 2, cho dù hàm lượng ABA của giống sau này đạt cao nhất trong lá. Jindou 21 tích tụ hàm lượng ABA thấp hơn trong mạch xylem so với các giống khác khi ẩm độ đất hoặc Ψ leaf suy giảm, nhưng độ nhạy cảm của khi khổng đối với ABA của xylem lớn hơn. Bởi vì các giống đậu nành thay đổi sự tích tụ ABA và biểu hiện độ nhạy của khi khổng khác nhau đối với ABA, nhưng chúng có mức nhạy cảm khí khổng như nhau đối với Ψ leaf, ẩm độ tương đối của lá dường như có tầm quan trọng nhiều hơn trong điều hòa sự đóng khí khổng của cây đậu nành.
Comments
Post a Comment